NGƯỜI THẦY
Trong ký ức của tôi, quãng thời gian học cấp 2 – năm học 1988 – 1989 dưới mái trường THCS Kiến Quốc luôn là một trong những năm tháng tươi đẹp và đáng nhớ nhất. Mỗi khi nhắm mắt lại, tôi vẫn thấy rõ hình ảnh ngôi trường mái ngói đỏ nằm lặng lẽ bên con đường đất nhỏ, những hàng phượng già nghiêng mình soi bóng xuống sân đất, tiếng ve râm ran mỗi độ hè về, và hơn hết là hình ảnh người thầy dạy Toán mà tôi luôn kính yêu – thầy Bùi Quang Trường.
Thầy Trường khi ấy khoảng hơn ba mươi tuổi, dáng người cao gầy, gương mặt hiền từ, trán cao, ánh mắt thì lúc nào cũng sáng rực lên một niềm đam mê khó tả. Thầy thường mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh nhạt, trên tay luôn cầm cuốn sổ tay bìa đen, trong đó thầy ghi chép chi chít những con số, công thức và cả những bài toán vui mà thầy tự sưu tầm. Giọng nói của thầy trầm ấm, nhẹ nhàng mà cuốn hút, đến nỗi mỗi khi thầy giảng bài, cả lớp như bị cuốn theo, chẳng ai còn nghĩ đến chuyện nói chuyện riêng.
Điều đặc biệt ở thầy là thầy không bao giờ dạy Toán một cách khô khan. Với thầy, Toán học không chỉ là những con số và công thức, mà là một thế giới đầy màu sắc, ẩn chứa những câu chuyện kỳ thú và những bí mật chờ được khám phá. Thầy thường nói:
“Các em ạ, Toán học giống như một khu vườn. Nếu mình chỉ đứng ngoài nhìn, sẽ thấy toàn những hàng rào rắc rối. Nhưng khi bước vào, mình sẽ thấy có bao nhiêu bông hoa đẹp đang nở.”
Và quả thật, nhờ cách dạy của thầy, chúng tôi - những học trò còn vụng về năm ấy đã dần dần biết yêu môn Toán. Mỗi tiết học của thầy là một niềm háo hức. Trước khi vào bài mới, thầy luôn kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện liên quan. Có khi là chuyện về nhà bác học Pythagoras phát hiện ra định lý nổi tiếng khi ngắm những viên gạch lát sân; có khi là chuyện Newton nhìn quả táo rơi mà tìm ra định luật hấp dẫn; và cũng có khi là những câu chuyện đời thường: chuyện thầy ngày mới ra trường, phải dạy học ở tận miền Tây, dân quý thầy mời thầy đến đám cưới. Trong đám cưới thầy đùa: “Mừng chịu 3 giạ lúa”!, Lúc họ đọc lên loa những người mừng: “Thầy Bùi Quang Trường mừng chịu 3 giạ lúa”- thầy ngượng ngượng là.
Những câu chuyện ấy, dù ngắn ngủi, nhưng luôn mở đầu cho một bài học mới, khiến chúng tôi dễ dàng bước vào thế giới Toán học một cách tự nhiên, không hề gượng ép. Thầy có cách dẫn dắt rất khéo: từ một câu chuyện đời thường, thầy khơi dậy tò mò, rồi khéo léo lồng vào kiến thức. Nhờ thế, những khái niệm tưởng chừng khó hiểu lại trở nên dễ gần hơn bao giờ hết.
Thầy có một cách dạy đặc biệt: thay vì chỉ giảng công thức hay bắt chép bài, thầy dẫn dắt chúng tôi qua những câu chuyện hấp dẫn, những bài toán vui mà nghe qua tưởng như trò chơi. Một buổi sáng đầu đông năm ấy, thầy bước vào lớp, tay cầm viên phấn trắng và mỉm cười: Hôm nay, thầy kể cho các em nghe chuyện về một cây cầu và con quỷ. Cả lớp ồ lên, đứa nào cũng tò mò. Thầy kể: Ở một ngôi làng nọ, có chiếc cầu bắc qua dòng sông sâu. Ở giữa cầu có một con quỷ đứng canh. Nó cứ thức 15 phút rồi lại ngủ 15 phút. Ai đi qua cầu lúc nó thức thì bị bắt, còn lúc nó ngủ thì an toàn. Nhưng thời gian để đi từ đầu cầu đến giữa cầu cũng mất đúng 15 phút. Vậy người dân phải làm thế nào để qua cầu an toàn? Chúng tôi nhao nhao bàn luận. Đứa thì bảo chờ nó ngủ rồi chạy thật nhanh, đứa lại bảo phải đánh lừa con quỷ. Thầy mỉm cười nhìn chúng tôi tranh cãi, rồi khẽ hỏi: Nếu các em là người phải qua cầu, các em sẽ chọn thời điểm nào?
Không khí lớp học sôi nổi hẳn lên. Và rồi, bằng giọng điềm đạm, thầy giải thích cách tư duy logic để tìm ra lời giải: “Nếu ta khởi hành ngay khi con quỷ bắt đầu ngủ, thì đến giữa cầu, đúng lúc nó tỉnh dậy. Vậy nên, ta nên đi ngay khi nó vừa tỉnh, đi được nửa đoạn, nó lại ngủ - ta an toàn mà qua được.” Cả lớp vỡ òa trong tiếng reo vui. Một bài toán tưởng như hư cấu, nhưng thầy đã biến nó thành bài học về tư duy thời gian, về sự kiên nhẫn và tính toán hợp lý.
Tôi nhớ nhất là những bài toán xếp que diêm, có một bài mà tôi vẫn luôn ghi nhớ và dùng để đố lại học trò của tôi bây giờ. Có lần thầy viết lên bảng bốn con số 9 bằng que diêm và nói: Hãy di chuyển hai que diêm để biến 9999 thành 1000. (Hình 1). Cả lớp ngẩn ra. Mấy bạn nhanh nhảu thử xoay, thử đổi, xếp hết kiểu này đến kiểu khác. Thầy nhìn chúng tôi loay hoay, nụ cười hiền lành ẩn sau cặp kính. Cuối cùng, khi mọi người đều chịu thua, thầy nhẹ nhàng di chuyển hai que diêm thành dấu cộng, biến bốn con số 9 thành phép tính 995 +5. (Hình 2). Cả lớp vỗ tay rào rào, vừa khâm phục vừa bật cười. Thầy nói: Toán học không chỉ là con số, nó là trí tưởng tượng. Biết nhìn vấn đề theo nhiều hướng, ta sẽ luôn tìm được cách giải.
Hình 1 Hình 2
Không chỉ dạy học giỏi, thầy Trường còn là người rất tâm lý và khéo léo trong cách ứng xử. Thầy hiếm khi trách, phạt học sinh, nhưng mỗi lời nói của thầy đều khiến chúng tôi suy nghĩ sâu sắc. Tôi nhớ hôm ấy, đang giờ học, bạn Cúc bất ngờ thưa: “Thưa thầy, bạn Trình vẽ bậy ra sách của em, vẽ bằng giấy than ạ!” Bạn Trình đỏ mặt phân trần: “Em không vẽ đâu thầy! Em làm gì có giấy than!” Lớp học bỗng lặng đi. Thầy Trường không vội trách mắng, chỉ trầm ngâm nói: “Hết giờ, thầy sẽ tìm hiểu rõ, giờ lớp mình cứ học bài đã”. Giờ học cứ thế nhẹ nhàng trôi qua, khi cả lớp đang hí hoáy giải bài tập, bỗng thầy mỉm cười hỏi: “Trong lớp, bạn nào có giấy than cho thầy mượn một tờ?” Bạn Trình nhanh nhảu: Em ạ! Ờ mang lên đây thầy mượn nào!!! Cả lớp xuýt xoa: Oa! Thầy đỉnh thật! Tìm một phát ra thủ phạm vẽ bậy. Bạn Trình đỏ mặt, lặng lẽ mang giấy than lên đưa thầy và nhận lỗi trước cả lớp.
Và có một kỷ niệm mà tôi nhớ mãi - một buổi học thật đặc biệt. Hôm đó, tôi và bạn Cúc mải mê nói chuyện sau khi thầy đã vào lớp. Cả hai cười khúc khích, chẳng để ý thầy đang đứng trên bục giảng. Đột nhiên, thầy dừng giảng, quay lại nhìn chúng tôi, ánh mắt không giận, chỉ hơi buồn: Hai em nói chuyện to, thầy nghe hết rồi đấy!
Tôi luống cuống, bạn Cúc vội cúi mặt. Mấy đứa bàn trên quay lại cười: Em ngồi ngay đây còn không nghe thấy mà thầy nghe được à? Thầy mỉm cười bí ẩn: Các em không tin à? Thầy là thần đấy! Bây giờ các em cứ viết chữ gì thầy sẽ viết đúng chữ “đó”.
Cả lớp háo hức hẳn lên. Bọn tôi ùa ra ngoài cửa, mỗi đứa lấy một mảnh giấy nhỏ, hí hoáy viết chữ của mình. Trong lúc đó, thầy thong thả bước đến bảng, viết một chữ lên mặt bàn rồi úp chiếc mũ cối lên che lại. Khi tất cả viết xong, chúng tôi nô nức mang giấy lên, tranh nhau xem thầy có viết đúng chữ mình nghĩ không. Thầy chậm rãi nhấc chiếc mũ ra. Dưới mặt bàn hiện lên chữ “đó”. Cả lớp ồ lên, đứa nào cũng phản đối: Thầy ăn gian! Em viết chữ “hoa”, em viết chữ “bút”, làm gì có ai viết “đó”!
Thầy cười khẽ, đôi mắt ánh lên nét tinh nghịch: Thầy bảo là thầy sẽ viết “đó”, nghĩa là thầy viết đúng chữ “đó” còn gì. Thầy đâu có nói là sẽ viết đúng chữ các em viết đâu!
Cả lớp cười ầm lên. Tôi và bạn Cúc cũng bật cười, quên mất cả ngượng ngùng. Không ai thấy bị phạt, chỉ thấy lòng nhẹ tênh. Buổi học hôm ấy tràn ngập tiếng cười.
Giờ nghĩ lại, tôi mới thấy đó là cách xử lý thật tinh tế. Thầy không la mắng, không trách phạt, nhưng khiến học trò nhớ mãi. Cách thầy “dạy” nhẹ nhàng mà sâu sắc – giúp chúng tôi hiểu rằng trong học tập cũng như trong cuộc sống, điều quan trọng không chỉ là đúng - sai, mà là cách con người đối diện với lỗi lầm của mình.
Thời gian cứ trôi, mái trường cũ đã đổi thay, lớp học nhỏ với những hàng bàn gỗ giờ chỉ còn trong ký ức. Nhưng mỗi khi cầm phấn đứng trên bục giảng, tôi lại thấy bóng dáng thầy Trường đâu đó trong cách tôi mỉm cười với học trò, trong cách tôi kể một câu chuyện nhỏ để khơi dậy hứng thú học tập.
Người thầy năm ấy đã dạy tôi không chỉ những con số, mà còn dạy cách làm người - kiên nhẫn, bao dung và biết nhìn mọi điều bằng đôi mắt của niềm vui. Có lẽ, chính nhờ thầy mà tôi hiểu sâu sắc câu nói: “Người thầy giỏi không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn thắp lên trong học trò ngọn lửa đam mê.”
Hơn ba mươi năm đã trôi qua, tôi vẫn nhớ rõ từng kỷ niệm, từng ánh nhìn, từng nụ cười của thầy Trường. Và tôi biết, trong mỗi người học trò năm ấy, thầy vẫn còn đó – một người thầy đã biến môn Toán khô khan thành niềm vui, biến những bài học thành ký ức ngọt ngào theo ta suốt cuộc đời.